• Tác giả:Khoa Phạm

Bệnh tự miễn: Triệu chứng & Cách điều trị

2020-07-06

Tổng quan

Bệnh tự miễn là gì?

Bệnh tự miễn là tình trạng hệ miễn dịch tấn công chính cơ thể. Hệ miễn dịch đóng vai trò bảo vệ cơ thể chống lại vi trùng, vi khuẩn và vi rút. Khi cơ thể bị những cá thể này xâm lấn, hệ miễn dịch sẽ phản ứng để tấn công và loại bỏ chúng.

Trong điều kiện thông thường, hệ miễn dịch có thể phân biệt giữa các tế bào lạ và tế bào của chính bạn. Khi mắc bệnh tự miễn, hệ miễn dịch “nhầm lẫn” những phần cơ thể của bạn là ngoại lai, dẫn đến quá trình giải phóng các protein kháng thể tấn công các tế bào khỏe mạnh. Tình trạng thiếu hụt miễn dịch làm giảm khả năng của cơ thể chống lại ngoại lai và dễ bị nhiễm trùng.

Một số bệnh tự miễn chỉ tác động đến một cơ quan nhất định (ví dụ: tuyến tụy ở bệnh tiểu đường tuýp 1). Các bệnh khác như lupus ban đỏ hệ thống (SLE) ảnh hưởng đến toàn bộ cơ thể.

Các loại bệnh tự miễn thường gặp

Dưới đây là một số loại bệnh tự miễn phổ biến:

1. Viêm khớp dạng thấp

Viêm khớp dạng thấp xảy ra khi hệ miễn dịch tạo ra kháng thể tấn công vào các khớp, gây ra tình trạng viêm, sưng và đau. Nếu không có phương pháp điều trị phù hợp, bệnh sẽ dần dần gây tổn thương khớp vĩnh viễn. Phương pháp điều trị viêm khớp dạng thấp truyền thống bao gồm các loại thuốc uống hoặc thuốc tiêm nhằm điều chỉnh hoạt động của hệ miễn dịch.

2. Lupus ban đỏ hệ thống (Lupus)

Ở bệnh nhân bị bệnh lupus, cơ thể phát triển các kháng thể tự miễn dịch tác động đến các mô trên khắp cơ thể như: khớp, phổi, tế bào máu, dây thần kinh, thận, v.v…

3. Bệnh viêm ruột (Inflammatory bowel disease – IBD)

Khi bị bệnh viêm ruột, hệ miễn dịch tấn công niêm mạc ruột, gây ra tình trạng tiêu chảy, chảy máu trực tràng, đau bụng, sốt và sụt cân. Viêm loét đại tràng và bệnh Crohn là hai dạng chính của viêm ruột.

4. Bệnh đa xơ cứng (Multiple Sclerosis – MS)

Ở bệnh nhân đa xơ cứng, hệ miễn dịch tấn công các tế bào thần kinh, gây đau, mù, yếu, giảm khả năng phối hợp và gây co thắt cơ bắp. Các loại thuốc ức chế hệ miễn dịch có thể góp phần hỗ trợ điều trị bệnh đa xơ cứng.

5. Bệnh đái tháo đường tuýp 1

Tiểu đường tuýp 1 xảy ra khi kháng thể hệ miễn dịch phá hủy các tế bào sản xuất insulin trong tuyến tụy. Khi đạt đến tuổi trưởng thành, bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường tuýp 1 sẽ cần phải tiêm insulin để sống sót. Tuy nhiên, việc tiêm insulin đi kèm một số tác dụng phụ đáng kể.

6. Hội chứng Guillain Barre

Trong trường hợp này, hệ thống miễn dịch tấn công các dây thần kinh kiểm soát các cơ ở chân, hoặc ở cánh tay và phần trên cơ thể. Điều này gây ra tình trạng suy yếu cơ, đôi khi có thể rất nghiêm trọng. Lọc huyết tương là phương pháp điều trị chính cho hội chứng Guillain-Barre.

7. Bệnh đa dây thần kinh hủy myelin do viêm mạn tính

Tương tự như Guillian-Barre, ở bệnh đa dây thần kinh hủy myelin do viêm mạn tính, hệ miễn dịch cũng tấn công các dây thần kinh, nhưng triệu chứng thường kéo dài hơn nhiều. Khoảng 30% bệnh nhân có thể phải dùng đến xe lăn nếu không được chẩn đoán và điều trị sớm.

8. Bệnh vẩy nến

Ở bệnh nhân vẩy nến, các tế bào máu hệ miễn dịch hoạt động quá mức (gọi là tế bào T) tích tụ trong da. Hoạt động của hệ miễn dịch kích thích quá trình sản sinh tế bào da, tạo ra các mảng bám màu bạc, có vảy trên da.

9. Bệnh Graves

Hệ miễn dịch tạo ra các kháng thể kích thích tuyến giáp giải phóng hormone tuyến giáp dư thừa vào trong máu (cường giáp). Các triệu chứng của bệnh Graves bao gồm lồi mắt, sụt cân, hồi hộp, khó chịu, nhịp tim nhanh, yếu cơ và tóc dễ gãy. Phương pháp phá hủy/ cắt bỏ tuyến giáp, sử dụng thuốc hoặc phẫu thuật thường được sử dụng để điều trị bệnh Graves.

10. Bệnh viêm tuyến giáp Hashimoto

Các kháng thể được tạo ra bởi hệ miễn dịch tấn công tuyến giáp, phá hủy các tế bào sản xuất hormone tuyến giáp. Điều này dẫn đến tình trạng nồng độ hormone tuyến giáp thấp (suy giáp), thường là từ vài tháng đến nhiều năm. Triệu chứng bao gồm mệt mỏi, táo bón, tăng cân, trầm cảm, khô da và nhạy cảm với trời lạnh.

11. Bệnh nhược cơ

Ở bệnh nhân nhược cơ, kháng thể liên kết với các dây thần kinh, làm mất khả năng kích thích cơ bắp. Tình trạng yếu cơ ngày càng tiến triển là triệu chứng chính của bệnh.

12. Viêm ống dẫn tinh

Đối với loại bệnh tự miễn này, hệ miễn dịch tấn công và gây tổn thương đến các mạch máu. Viêm ống dẫn tinh có thể ảnh hưởng đến bất kỳ cơ quan nào, vì vậy triệu chứng rất khác nhau và có thể xảy ra ở hầu hết mọi nơi trên cơ thể.

Dấu hiệu

Triệu chứng của bệnh tự miễn là gì?

Các triệu chứng ban đầu của nhiều bệnh tự miễn là rất giống nhau, bao gồm:

  • Mệt mỏi.
  • Đau cơ.
  • Sưng và đỏ.
  • Sốt nhẹ.
  • Khó tập trung.
  • Cảm giác tê và ngứa ran ở tay và chân.
  • Rụng tóc.
  • Viêm da.

Mỗi loại bệnh có thể biểu  hiện một số triệu chứng riêng. Ví dụ, bệnh tiểu đường tuýp 1 được đặc trưng bởi tình trạng khát nước, sụt cân và mệt mỏi. Bệnh viêm ruột gây ra các triệu chứng như đau bụng, đầy hơi và tiêu chảy.

Với các bệnh tự miễn như bệnh vẩy nến/ viêm khớp dạng thấp, những triệu chứng có thể xuất hiện (bùng phát) và biến mất (thuyên giảm) liên tục.

Nguyên nhân gây bệnh

Những nguyên nhân nào gây bệnh tự miễn?

Hiện nay, nguyên nhân chính xác khiến hệ miễn dịch ngưng hoạt động vẫn chưa được xác định. Tuy vậy, số liệu thống kê về bệnh tự miễn cho thấy một số đối tượng có nguy cơ mắc bệnh cao hơn so với những người khác.

Theo một nghiên cứu năm 2014, tỷ lệ mắc bệnh tự miễn ở phụ nữ cao gấp đôi nam giới – 6,4% phụ nữ so với 2,7% nam giới. Thông thường, bệnh thường phát triển vào giai đoạn mang thai (tuổi từ 15 đến 44).

Một số bệnh tự miễn, như đa xơ cứng và lupus, có liên quan đến yếu tố gia đình. Nếu bạn có thành viên gia đình mắc bệnh tự miễn, nguy cơ bị bệnh của bạn sẽ cao hơn.

Với việc tỷ lệ mắc bệnh tự miễn đang ngày càng tăng lên, các nhà nghiên cứu giả định rằng các yếu tố môi trường (nhiễm trùng, tiếp xúc với hóa chất/ dung môi) cũng đóng vai trò là nguyên  nhân gây bệnh.

Điều trị

Cách chẩn đoán bệnh tự miễn

Hiện nay, đã cơ hơn 80 loại bệnh tự miễn được phát hiện. Thông thường các triệu chứng của chúng thường khá giống nhau, gây khó khăn cho việc chẩn đoán.

Không xét nghiệm đơn lẻ nào có thể đủ để chẩn đoán được phần lớn các bệnh tự miễn. Bác sĩ sẽ sử dụng kết hợp nhiều xét nghiệm, đồng thời xem xét triệu chứng và khám thực thể để phục vụ cho công tác chẩn đoán.

Các xét nghiệm máu tìm kiếm tự kháng thể có thể giúp bác sĩ chẩn đoán bệnh tự miễn. Phương pháp điều trị truyền thống sử dụng một số loại thuốc để làm giảm phản ứng miễn dịch quá mức và giảm viêm trong cơ thể.

Xét nghiệm kháng thể kháng nhân (ANA) thường là một trong đề xuất đầu tiên của bác sĩ nhằm phục vụ chẩn đoán bệnh tự miễn.

Một số xét nghiệm khác có thể giúp tìm kiếm các kháng thể cụ thể được tạo ra ở một số bệnh tự miễn. Ngoài ra, bác sĩ cũng có thể tiến hành các xét nghiệm không đặc hiệu để kiểm tra tình trạng viêm mà các bệnh này gây ra trong cơ thể.

bệnh tự miễn

Bệnh tự miễn có chữa được không?

Trước đây, các phương pháp điều trị truyền thống chỉ dừng ở việc thể kiểm soát phản ứng hệ miễn dịch, giảm đau đơn và viêm. Các loại thuốc được sử dụng cho việc hỗ trợ điều trị bệnh tự miễn bao gồm:

  • Thuốc chống viêm không steroid (NSAID): ibuprofen (Motrin, Advil), naproxen (Naprosyn).
  • Thuốc ức chế miễn dịch.

Bệnh tự miễn thường là bệnh lý mãn tính, tuy không gây tử vong, song tác động rất lớn đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Hiện nay, phương pháp ghép tủy xương đang được thủ nghiệm nhằm “khởi động lại” hệ miễn dịch. Ngoài ra, các bác sĩ tại Johns Hopkins đang nghiên cứu sử dụng một loại thuốc hóa trị liệu gọi là cyclophosphamide để khởi động lại hệ miễn dịch. Phương pháp này đã cho thấy triển vọng ở một số bệnh nhân mắc bệnh lupus.

Xem thêm địa chỉ các phòng khám, bệnh viện tại đây.


Share to



Có thể bạn quan tâm